PHƯƠNG PHÁP MỚI DẠY MÔN TIẾNG ANH TẠI TÀI NĂNG VIỆT – TAIDUC LINKS

Học mà chơi, chơi mà học

Đề án “Dạy và học ngoại ngữ” trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2008. Đặc biệt, trong đề án, dạy và học tiếng Anh có vị trí vô cùng quan trọng, nhất là việc dạy và học cho học sinh. Có 6 nguyên tắc vàng trong dạy tiếng Anh cho học viên để việc dạy và học có hiệu quả.

Chơi hơn dạy. Chính xác phải nói đây là phương pháp “Dạy mà không dạy”, trong đó, giáo viên lên lớp không theo một giáo trình nhất định nào cả và tư tưởng chủ đạo không phải là dạy mà là tạo sân chơi đa dạng, nhiều màu sắc bằng tiếng Anh cho học sinh. Từ đó, hướng dẫn học sinh tự làm chủ sân chơi và từng bước tự bổ sung các hoạt động khác nhau.

Hoạt động, hình ảnh hơn lý thuyết. Hình ảnh, video, trò chơi, nhạc họa, diễn kịch… nói chung là các hoạt động nhằm giúp học sinh tham gia vào môi trường sử dụng tiếng Anh một cách tự nhiên, không gượng ép.

Các hoạt động đa dạng sẽ giúp học sinh từng bước hình thành phong cách riêng trong học tập. Phong cách riêng chính là nền tảng của chất lượng và hiệu quả học tập.

  1. Quan điểm đổi mới phương pháp dạy học

Mục tiêu giáo dục hiện nay đang tập trung hướng vào việc phát triển tính năng động, sáng tạo và tích cực của học viên nhằm tạo khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề cho học viên. Để đạt được mục tiêu này việc thay đổi phương pháp dạy học theo hướng coi trọng người học, coi học viên là chủ thể hoạt động, khuyến khích các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học viên trong quá trình dạy học là rất cần thiết.
Trong dạy học ngọai ngữ, quan điểm này càng đúng vì không ai có thể thay thế người học trong việc nắm các phương tiện ngoại ngữ và sử dụng chúng trong hoạt động giao tiếp bằng chính năng lực giao tiếp của học viên. phương pháp dạy học ngoại ngữ chọn giao tiếp là phương hướng chủ đạo, năng lực giao tiếp (communicative competences) là đơn vị dạy học cơ bản, coi giao tiếp vừa là mục đích vừa là phương tiện dạy học (dạy học trong giao tiếp, bằng giao tiếp và để giao tiếp). phương pháp dạy học này sẽ phát huy tốt nhất vai trò chủ thể, chủ động, tích cực của học viên trong việc rèn luyện kĩ năng ngôn ngữ vì những mục đích thực tiễn và sáng tạo. Học viên cần phải được trang bị cách thức học tiếng Anh và ý thức tự học tập, rèn luyện. Người học là chủ thể, nếu không biết cách tự học thì sẽ không thể nắm vững tiếng nước ngoài. Đổi mới phương pháp dạy học là quá trình chuyển từ thày thuyết trình, phân tích ngôn ngữ – trò nghe và ghi chép thành phương pháp dạy học mới, trong đó thày là người tổ chức, giúp đỡ hoạt động học tập của học viên, còn học viên là người chủ động tham gia vào quá trình hoạt động học tập. Tiêu chí cơ bản của phương pháp dạy học mới là hoạt động tự lập, tích cực, chủ động của học viên trong việc giải quyết các nhiệm vụ giao tiếp bằng ngoại ngữ. Tiêu chí chủ yếu để đánh giá kết quả học tập của học viên là năng lực giao tiếp, năng lực ứng xử bằng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp cụ thể.

2. Bản chất của tích cực hoá hoạt động học tập của học viên trong dạy học ngoại ngữ Những biểu hiện tích cực đặc trưng của học viên trong hoạt động học tập ngoại ngữ được thể hiện ở những mặt chủ yếu sau:

  • Học viên có nhu cầu tiếp thu kiến thức, kĩ năng, vận dụng kĩ năng để giao tiếp, hứng thú làm việc với các tài liệu học tập.
  • Từ chỗ có nhu cầu tiếp thu kiến thức, rèn luyện và vận dụng kĩ năng trong giao tiếp, học viên sẽ tự giác học tập, chủ động huy động vốn kinh nghiệm đã tích luỹ (vốn từ, quy tắc ngữ pháp, …) để bắt chước, tái hiện, tìm tòi cách ứng xử và ứng xử sáng tạo trong các tình huống giao tiếp.
  • Học viên chủ động lựa chọn kiến thức và thao tác tư duy thích hợp để có những ứng xử ngôn ngữ cần thiết, phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp.
  • Học viên biết bộc lộ nhận thức và sự hiểu biết của mình ra bên ngoài bằng lời nói, bài viết thông qua ngoại ngữ.
  • Học viên biết cách làm việc theo cặp, theo nhóm, hợp tác với bạn khi cần thiết trong quá trình luyện tập ngôn ngữ theo yêu cầu và nhiệm vụ của thày giao.
  • Học viên biết cách tự học, biết chủ động trình bày những ý định của mình thông qua giao tiếp nói hoặc viết.

Trên đây là một số nét biểu hiện chính của phương pháp dạy học mới. Đây cũng chính là những năng lực và phẩm chất mà người giáo viên cần phải hình thành và phát triển ở học viên trong quá trình học tập ngoại ngữ.

3. Những căn cứ của đổi mới phương pháp dạy học ngoại ngữ Phương pháp dạy học căn cứ vào đặc điểm của môn ngoại ngữ và đặc điểm tâm sinh lý của học viên:

3.1. Đặc điểm của môn ngoại ngữ nói chung:

–   Quan điểm giao tiếp là quan điểm đặc thù của môn ngoại ngữ trong nhà trung tâm. Quan điểm giao tiếp quy định “tính giao tiếp” của hoạt động dạy học ngoại ngữ.

–    Môn ngoại ngữ đòi hỏi nhận thức và giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa kiến thức ngôn ngữ và kĩ năng ngôn ngữ – hai thành tố chủ yếu của nội dung dạy học. Kĩ năng là trung tâm, là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học. Kiến thức là điều kiện, là phương tiện, là nền tảng. Chỉ có kiến thức mà không có kĩ năng thì không có khả năng giao tiếp, ngược lại, chỉ có kĩ năng mà không có kiến thức thì khả năng giao tiếp bị hạn chế và không phát triển được.

–    Dạy học ngoại ngữ thực chất là hoạt động rèn luyện năng lực giao tiếp  dưới các dạng: nghe, nói, đọc, viết. Muốn rèn luyện được năng lực giao tiếp cần có môi trung tâm với những tình huống đa dạng của cuộc sống. Môi trung tâm này chủ yếu do giáo viên tạo ra dưới dạng những tình huống giao tiếp và học viên phải tìm cách ứng xử bằng ngoại ngữ cho phù hợp với từng tình huống giao tiếp cụ thể.

–    Học ngoại ngữ, học viên đồng thời tiếp cận với đất nước, nền văn hoá xa lạ. Mức độ tiếp cận thông tin càng cao thì việc dạy học càng thuận lợi. Điều này đòi hỏi nhiều thiết bị dạy học (nghe – nhìn, nghe – nói) và nhiều hình thức dạy học linh hoạt.

–       Mục đích của việc dạy học ngoại ngữ không nhằm hướng học viên vào việc nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ, mà nhằm giúp học viên sử dụng hệ thống ngôn ngữ đó như một công cụ giao tiếp, nghĩa là nhằm rèn luyện cho học viên năng lực giao tiếp. Năng lực giao tiếp này được biểu hiện bằng khả năng sử dụng sáng tạo những quy tắc ngôn ngữ để thực hiện giao tiếp theo tình huống. Như vậy, mục đích cuối cùng của việc học ngoại ngữ không phải là biết hệ thống ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp mà là biết sử dụng hệ thống đó để đạt được mục đích giao tiếp.

3.2. Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý của học viên: Khi học ngoại ngữ, học viên TÀI NĂNG VIỆT – TAIDUC LINKS có nhiều điểm khác ở những mặt sau:

–      Suy nghĩ nhanh nhạy trong nhận thức kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp).

–     Khả năng tưởng tượng linh hoạt, logic hơn; nhất là dễ dàng liên tưởng và so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa ngoại ngữ với tiếng mẹ đẻ.

–     Khả năng ghi nhớ, tái hiện các mẫu lời nói và khả năng diễn đạt bằng ngoại ngữ (tiếng Anh) lưu loát và bền vững hơn, phản xạ ngôn ngữ nhanh.

–     Rất hứng thú và tích cực trong hoạt động luyện tập phát triển kĩ năng ngôn ngữ, nhất là 2 kĩ năng nghenói, nhưng cũng rất dễ chán nản trong việc luyện tập phát triển các kĩ năng phức tạp, ví dụ  như kĩ năng đọc hiểu vì gặp nhiều từ mới, trừu tượng và khó đoán nghĩa; hoặc như kĩ năng viết vì cảm thấy khó diễn đạt suy nghĩ, ý tưởng cá nhân bằng ngôn ngữ viết.

–     Nhìn chung học viên tuy hào hứng, có ý thức muốn nắm bắt và sử dụng được ngoại ngữ nhưng khả năng độc lập trong học tập chưa tốt (ví dụ: còn rụt rè, không tự tin và sợ mắc lỗi trong khi nói). Học viên ít có cơ hội để luyện tập, hơn nữa lại thiếu kiên trì trong rèn luyện phát triển kĩ năng ngôn ngữ nên kết quả học tập thường bị hạn chế, dễ nản chí và bỏ cuộc. Vì vậy học viên cần phải thường xuyên được sự khuyến khích, động viên kịp thời của giảng viên của trung tâm, và đặc biệt cần có sự hỗ trợ của các phương pháp dạy học thích hợp để củng cố, ổn định và nâng cao hiệu quả học tập ngoại ngữ của học viên.

4.  Giải pháp đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở trung tâm TÀI NĂNG VIỆT – TAIDUC LINKS phương pháp dạy học tiếng Anh theo định hướng tích cực hoá hoạt động học tập Ngày nay, người ta đặc biệt quan tâm tới việc áp dụng phương pháp Giao tiếp vào quá trình giảng dạy tiếng Anh. Giáo viên luôn coi trọng việc hình thành và ưu tiên phát triển các kĩ năng giao tiếp (nghe, nói, đọc và viết). Đồng thời, việc cung cấp kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp) là quan trọng, gúp phần hỡnh thành và phỏt triển cỏc kĩ năng giao tiếp. Chính vỡ vậy, phương pháp Giao tiếp, ở chừng mực nhất định, đó phỏt huy được ưu điểm của nó, thực sự giúp cho học viên có khả năng sử dụng được tiếng Anh để giao tiếp. Việc áp dụng phương pháp Giao tiếp (có sự kết hợp với các phương pháp dạy học khác) trong quá trỡnh giảng dạy tiếng Anh ở TÀI NĂNG VIỆT – TAIDUC LINKS được thực hiện như sau: Cả 4 kỹ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc và viết) đều được quan tâm và được phối hợp trong các bài tập và các hoạt động trên lớp. Kỹ năng nghe luôn được sử dụng (phối hợp với kỹ năng đọc) để giới thiệu ngữ liệu hoặc nội dung bài học mới. Ngoài ra, kỹ năng nghe còn được rèn luyện từng bước thông qua các bài tập nghe khác nhau như nghe lấy ý chính, nghe hiểu các thông tin chi tiết, nghe để đoán nghĩa qua ngữ cảnh,vv…. Kỹ năng nói được dạy phối hợp với ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, chức năng ngôn ngữ và với các kỹ năng khác, thông qua các bài hội thoại/ mẫu hội thoại ngắn hoặc các nội dung chủ điểm của bài. Kỹ năng đọc, ngoài ý nghĩa được sử dụng làm phương tiện giới thiệu nội dung và ngôn ngữ mới, còn được phát triển thông qua các bài tập đọc có mục đích khác nhau như đọc hiểu nội dung chi tiết, đọc lướt, đọc lấy ý chính, đọc tìm thông tin cần thiết, vv; với các loại bài khoá có văn phong khác nhau như văn bản viết, văn bản nói, bài hội thoại, bài văn xuôi, bài văn vần, quảng cáo, bảng biểu, mẫu khai, vv…. Kỹ năng viết cơ bản được dùng để củng cố vốn ngữ liệu đã được học. Ngoài ra, còn có những bài tập dạy viết có mục đích như viết thư cá nhân, điền các mẫu khai, viết báo cáo ở dạng đơn giản, viết một đoạn văn ngắn có gợi ý, dựa vào bài đã học về một chủ điểm, hay bày tỏ quan điểm về một nhận định hoặc ý kiến đưa ra. Ngữ liệu mới được giới thiệu theo chủ điểm và thông qua hoạt động nghe và đọc; sau đó được luyện tập thông qua cả 4 kỹ năng. Có nghĩa là sẽ không có các mục dạy tách biệt cho ngữ âm, ngữ pháp hay từ vựng trong từng bài học mà các yếu tố ngôn ngữ sẽ được dạy lồng ghép với nhau và phối hợp với việc phát triển các kỹ năng. Cụ thể là: Ngữ pháp được xuất hiện theo chủ đề và tình huống của bài học và được luyện tập trong ngữ cảnh; sau đó được chốt lại một cách có hệ thống sau một số bài học và ở cuối sách giáo khoa. Các bài tập chuyên sâu về hình thái cấu trúc ngữ pháp sẽ được luyện tập một cách có hệ thống trong sách bài tập kèm theo cuốn sách giáo khoa. Từ vựng cũng được xuất hiện tự nhiên theo các chủ đề nhằm đạt được mức độ ngữ cảnh hoá cao, giúp học viên dễ tiếp thu và nhớ lâu. Các bài tập sử dụng từ vựng thường được phối hợp với các bài tập ngữ pháp và các bài tập nghe, nói, đọc, viết. Ngữ âm được coi là một bộ phận mật thiết gắn liền với các hoạt động lời nói, được dạy và luyện tập gắn liền với việc dạy từ mới, dạy ngữ pháp, dạy nghe và dạy nói. Hệ thống các bài tập và hoạt động dạy học được thiết kế theo trình tự dạy học đi từ giới thiệu ngữ liệu, luyện tập có hướng dẫn đến vận dụng. Các bài tập và hoạt động dạy học chú trọng khuyến khích học viên áp dụng ngữ liệu đang học với các kiến thức có sẵn để diễn đạt các nội dung khác nhau trong chính đời sống thực tế của học viên. Hệ thống bài tập đặc biệt chú trọng những nguyên tắc dạy học cơ bản trong quan điểm dạy học giao tiếp để biên soạn các loại hình bài tập như nguyên tắc chuyển đổi thông tin (information transfer), nguyên tắc tạo khoảng trống thông tin (information gap), hay nguyên tắc cá thể hoá (personalization), nhằm không những giúp học viên nắm được hệ thống cấu trúc ngữ  pháp mà còn biết ứng dụng để diễn đạt các nội dung giao tiếp trong các tình huống cụ thể trong đời sống thật của học viên.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *